ẢO GIÁC TƯƠNG TƯ
(Vĩ tam thanh)
Hiệu ứng này là yếu yểu yêu
Vì do kích thích liễu liêu liều
Nguyên nhân có thể bia bìa bịa
Hiện tượng chăng vì điếu điểu điêu
Nguyên Hữu: tên thật là.................. Sinh ngày: 26 tháng 08 năm ........ Quê quán: Nam Định
ẢO GIÁC TƯƠNG TƯ
(Vĩ tam thanh)
Hiệu ứng này là yếu yểu yêu
Vì do kích thích liễu liêu liều
Nguyên nhân có thể bia bìa bịa
Hiện tượng chăng vì điếu điểu điêu
TRĂNG SAY
(Khoán thủ chiết tự)
Trước bóng đêm buồn lệ chợt rơi
Rừng thiêng tắm đượm ánh trăng ngời
Ăn thua sóng vỗ tưng bừng núi
Nhịn nhục mây xuôi vắng vẻ đồi
TỪ TRONG TRANG SÁCH
*
Thủ Nhất Thanh *
Trong trang sách vẫn thấy đầy à
Trong đó nhiều bài học lắm nha
Trong lúc thanh nhàn nên đọc ạ
Trong khi rảnh rỗi hãy xem mà
LẠNH LÙNG
(Chiết tự khoán tâm)
Đâu vì gió Lộng đón mùa sang
Nước biếc chiêu An xác lá bàng
Vận tủi không Ngừng theo quấn lấy
Cơn sầu chẳng Hết bám đeo mang
CHÀO
XUÂN 2026
(Áp
cú)
Khép
lại năm qua những nhọc lòng
Lòng
thường gạn đục giữ tâm trong
Trong
veo ánh mắt soi đời rộng
Rộng rãi tim người bớt lạnh đông
Nỗi Đau Bản Xa
(Cô nhạn nhập quần)
Họa Mi trường cũ lệ rơi nhiều
Gió lặng sương sầu phủ núi mây
Nghĩa cử chưa tròn thân gác lại
Tâm lành vẫn rạng xác phơi đây
Chuyến
Xe Định Mệnh
(Cô
nhạn nhập quần)
Dốc
thẳm vùi xe đẫm lệ rồi
Đèo
cao thảm cảnh vọng bầu trời
Lòng
nhân dẫu gửi thân đành thác
Chữ thiện đang gieo mệnh bỗng rời
YÊU XA
(Hạn vận)
Thư - hừ - ư - hư - gừ
Phía đó em thường ngóng đợi thư
Sao anh muộn gửi bực này: hừ
Trời Nam bận rộn nhiều như vậy
DƯ ÂM
(Dĩ đề vi vận)
xem-rèm-Tem-thèm-em
Hoa tàn cánh rụng mấy ai
xem
Sắc vẫn tươi nguyên đậu mé
rèm
Cửa sổ kề bên như ấn dấu
TỐT NGHIỆP
(Tứ tuyệt – Đường luật)
Vạt nắng còn đi tìm thơ mộng
Bờ môi vẫn quyện rõ son hồng
Mây phiêu bạt thế vương con chữ
Mực tím khô rồi bước tiếp không…
Ô thước kiều: lấy hoặc một hai hay là ba bốn... tiếng cuối bài thứ nhất, đặt ở đầu câu thứ nhứt bài thứ hai; lấy một hai hay là ba bốn tiếng cuối bài thứ hai đặt ở đầu câu thứ nhứt bài thứ ba và cứ như thế cho đến bài chót.
CHỐNG TÔN THỌ TƯỜNG
Long lay lòng sắt đã mang nhơ
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ
Thủ Vĩ Liên Hoàn = Làm nhiều bài thơ (từ 2 bài thơ trở lên), tứ tuyệt hay bát cú, lấy câu kết của bài 1 đem làm câu phá của bài 2; câu kết của bài 2 đem làm câu phá của bài 3... cho đến khi dứt bài chót. (Thủ = đầu. Vĩ = vỹ = đuôi. Liên = liền với nhau. Hoàn = hườn = trở về, trả trở lại).
(Quân tử cố cùng)
Chưa chán ru mà quấy mãi đây
Nợ nần dan díu mấy năm nay
Lộc lư ngũ bộ = Làm 5 bài thơ với một tựa đề theo phương pháp như sau: Một câu có vần dùng làm chủ đề lần lượt được đặt làm câu phá đề của bài thứ nhất rồi chuyển xuống lần lượt làm câu thừa đề của bài thứ hai, các câu có vần trong cặp thực luận và kết của các bài tiếp theo, các vần khác cứ theo trật tự mà đẩy lên nhường chỗ cho câu chủ đề. Có thể coi các bài là một chùm xướng họa mà câu chủ đề đã được di chuyển tuần tự qua các vị trí như trục bánh xe tịnh tiến ( có ý kiến cho rằng "lộc lư" là cách đọc khác của từ "lộc lô" tức là con lăn).
Xa Luân Ngũ Bộ = Làm tất cả 5 bài thơ với một tựa đề:
Theo cách 1, các câu có vần của bài đầu tiên sẽ lần lượt là các câu phá đề của các bài lần lượt từ trên xuống dưới; các vần khác theo trật tự mà luân chuyển. Cách 1 xử dụng các câu có vần lần lượt làm các câu phá đề của mỗi bài.
Theo cách 2, các từ vần của bài đầu tiên sẽ lần lượt là từ vần cho các câu phá đề của các bài lần lượt từ trên xuống dưới; các vần khác theo trật tự mà luân chuyển. Cách 2 xử dụng từ vần lần lượt trong các
Lục Chuyển Hồi Văn = từ 1 bài thơ (Nguyên bản) làm thành ra tất cả 6 bài thơ (ĐL Bát Cú):
Bài thơ thứ 1 (= Nguyên bản) = Đọc xuôi (như Nguyên Bản) là 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Bài thơ thứ 2 (= Nghịch bản) = Đọc ngược của Nguyên bản từ dưới lên trên làm ra 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Bài thơ thứ 3 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Ngũ Chuyển Hồi Văn = từ 1 bài thơ (Nguyên bản) làm thành ra tất cả 5 bài thơ (ĐL Bát Cú):
Bài thơ thứ 1 (= Nguyên bản) = Đọc xuôi (như Nguyên Bản) là 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Bài thơ thứ 2 (= Nghịch bản) = Đọc ngược của Nguyên bản từ dưới lên trên làm ra 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Bài thơ thứ 3 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Tứ Chuyển Hồi Văn = từ 1 bài thơ (Nguyên bản) làm thành ra tất cả 4 bài thơ (ĐL Bát Cú):
Bài thơ thứ 1 (= Nguyên bản) = Đọc xuôi (như Nguyên Bản) là 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Bài thơ thứ 2 (= Nghịch bản) = Đọc ngược của Nguyên bản từ dưới lên trên làm ra 1 bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Bài thơ thứ 3 = Nguyên bản và Bỏ 2 chữ đầu của mỗi câu làm ra 1 bài Ngũ Ngôn Bát Cú có Vần Bằng.
Thuận Nghịch Độc thì phải theo quy luật đọc thuận: Từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Đọc nghịch: Từ phải qua trái, từ dưới lên trên và đương nhiên đọc thuận hay đọc nghịch thì cũng phải có nghĩa.
VỊNH CẦU THÀNH THÁI
Ào ào trận gió nổi tây đông
Vận khí vừa nay giáp hội rồng
Cao điện chốn đều thay ngói cũ
Hoán vận = 2 bộ vận được gieo ở các vị trí của chữ thứ 5 và chữ thứ 7 của 8 câu thơ (bát cú), khi hoán đổi vị trí hai chữ nầy thành ra 2 vần bằng và trắc khác nhau thành ra 2 bài thơ.
BIỂN NHỊP HÒA
Vần bằng:
Sóng biển dâng trào vũ điệu êm
Phú Đắc = bài thơ giải thích và phát triển ý của một câu thơ hay ca dao hay tục ngữ, nội dung phải phù hợp với sự việc đó.
Thí dụ 1
Câu thơ: Bà già đã bảy mươi tư
Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng
Bài thơ: GIÀ CÒN MUỐN LẤY CHỒNG